Tên tiếng Việt: Nghể răm, Răm nước, Thủy liễu, Rau nghể, Mã liễu, Phiắc phíe (Tày)Tên khoa học: Polygonum hydropiper L.Tên đồng nghĩa: Persica hydropiper (L.) SpachHọ: Polygonaceae (Rau răm) Công dụng: Nhuận tràng, rắn cắn, giun (cả cây sắc uống hoặc giã lấy nước uống). Còn dùng chữa huyết áp cao, cầm máu, thấp khớp, viêm ruột cấp tính, lỵ amip, lở ghẻ, mụn nhọt.
1. Mô tả
Cây thảo, cao 20 – 70cm, sống hàng năm. Thân mọc đứng, phân nhánh nhiều, có dóng dài và nhẵn. Lá mọc so le, hình mũi mác hẹp, có cuống rất ngắn, gốc tròn, đầu thon nhọn, dài 4 – 6cm, rộng 1 – 1,3cm, hai mặt nhẵn hoặc có ít lông ở gân chính và ở mép, mặt trên đôi khi có vết rám hình chữ V; bẹ chìa mỏng, có lông. Cụm hoa mọc ở ngọn thân và kẽ lá gần ngọn thành bông dài và mảnh, thường cong xuống ; lá bắc hình phễu, có lông ở mép; hoa màu đỏ; bao hoa có 4 phiến có điểm tuyến (đôi khi 3-5); nhị 6, thọt. Quả hình bầu dục, bóng, đôi khi có 3 cạnh, có bao hoa tồn tại. Mùa hoa quả: tháng 9-12.
2. Phân bố, sinh thái
Polygonum L. là chi lớn gồm các loài phân bố rộng rãi khắp thế giới. Ở Việt Nam có 30 loài (Nguyễn Tiến Bân, 1997), trong đó có gần 20 loài được dùng làm thuốc (Võ Văn Chi, 1996). Nghể răm là loài phân bố rộng khắp vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới châu Á và một phần lãnh thổ ở châu Âu. Ở châu Á, nghể răm được ghi nhận ở Ấn Độ, Srilanca, Bangladesh, Malaysia, Thái Lan, Philippin, Indonesia, Campuchia, Lào, và Trung Quốc…. Ở Việt Nam, nghể răm có ở khắp các tỉnh, từ đồng bằng đến trung du và vùng núi ( dưới 500m). Cây ưa sáng và đặc biệt ưa ẩm, nên thường mọc trên đất lầy thụt ở ruộng nước, bờ ruộng, ao, suối, kênh rạch…. Cây sinh trưởng gần như quanh năm, mạnh nhất vào mùa mưa ẩm, ra hoa quả nhiều; đẻ nhánh từ gốc và phân cành khoẻ. Nghể răm ở Việt Nam được coi là loài cỏ dại, ảnh hưởng tới cây trồng.
3. Bộ phận dùng
Toàn cây phơi hay sấy khô.
4. Thành phần hoá học
Toàn cây chứa các chất thuộc nhiều nhóm thành phần hoá học khác nhau: Flavonoid 2 – 2,5% trong đó có quercetin, quercitrin, kaempferol, rutin, hyperosid (quercetin – 3 – galactosid), rhamnacin, rhamnacin kali bisulfat monoester, persicarin (isorhamnetin – 3 – kali bisulfat ester), persícarin – 7 – methyl – ether). Theo một số tác giả, lá chứa nhiều flavonoid : quercetin – 3 – sulfat, isorhamnetin – 3,7 – disulfat và tamarixetin – 3 – glucosid – 7 – Sulfat ( Yagi Akữa và cs 1994), 7, 4′ – dimethylquercetin, 3’ – methyl quercetin, quercetin, isoquercitrin (Haraguchi Hừoyulci và cs, 1992).